Cách thức độc nhất vô nhị để hạn chế những biến chứng nghiêm trọng của viêm ruột thừa

Viêm ruột thừa cấp tính vị trí đau ruột thừa là một trong các trường hợp khẩn cấp phổ biến nhất ở bụng, thường xảy ra ở người trẻ tuổi, nhưng nó cũng mang thể xảy ra ở người già hoặc trẻ lọt lòng. Bởi vì những biểu thị lâm sàng của nó tương tự như rộng rãi bệnh nội khoa, chẩn đoán phân biệt làm cho vượt trội tầm quan yếu của nó, đặc biệt là lúc bệnh nhân bị đau bụng phẫu thuật, họ được coi sóc, dẫn tới bệnh hoặc thậm chí là biến chứng, đấy chẳng hề là điều mà người cao niên của chúng tôi mong muốn. Vì vậy, kiểm tra thể chất đông đảo và kỹ lưỡng. Với các xét nghiệm thích hợp trong phòng thí điểm và độ tương phản, các khuyết điểm sở hữu thể được tránh.

Thứ nhất, tỷ lệ mắc

Viêm ruột thừa cấp tính là 1 trong các trường hợp khẩn cấp phổ quát nhất ở bụng biểu thị của đau ruột thừa. Khoảng 5% đến 7% số người có thể bị viêm ruột thừa trong suốt cuộc thế và cần điều trị.

Tỷ lệ nam và nữ 10 đến 25 tuổi khoảng 3 ︰ hai , 25 sau lúc tỷ lệ độ tuổi dần sắp 35 tuổi đều giống nhau, thường xảy ra ở 10 tới 30 giữa năm, ít thường xuyên trong 5 năm trở xuống và 65 năm trở lên, hơn Ít xảy ra ở trẻ dưới một tuổi và người cao tuổi trên 80 tuổi, nhưng một lúc hai thái cực của tuổi này xảy ra, những triệu chứng và triệu chứng thường lấp lửng hoặc không điển hình, và bác sĩ thuận tiện bỏ qua, gây ra các biến chứng nghiêm trọng như viêm phúc mạc. Và thậm chí dẫn tới mẫu chết đau ruột thừa đau bên nào

Thứ 2, mối quan hệ giữa thay đổi bệnh lý và triệu chứng của ruột thừa

Viêm ruột thừa cấp tính với thể được chia thành phổ thông chiếc tùy theo chừng độ hiểm nguy, nhưng mối quan hệ giữa các triệu chứng ban đầu hoặc tỷ lệ xuất hiện và mức độ nguy hiểm của viêm ruột thừa vẫn chưa rõ ràng. đau ruột thừa bên trái hay phải

đại quát, viêm ruột thừa cấp tính là 1 sự xuất hiện dần dần và các triệu chứng ban sơ của nó là nhẹ. Trên lâm sàng, những chiếc viêm ruột thừa khác nhau chỉ là các thời kỳ hoặc chừng độ khác nhau của bệnh. Cỗi nguồn phổ biến nhất của viêm ruột thừa cấp là do tắc nghẽn do nhiễm trùng. Ruột ruột thừa bị tắc nghẽn do nâng cao sản nang bạch huyết dưới niêm mạc, sỏi phân, hẹp, khối u hoặc những trạng thái khác, và chất nhầy tích trữ trong lòng để tạo thành sức ép. đau ruột thừa bên trái hay phải

Trong vòng 6 giờ sau lúc ổ cắm ruột thừa bị chặn, phù nằn nì, viêm và phá hủy biểu mô 1 phần khởi đầu xảy ra ở thành ruột thừa. Sau khoảng 12 giờ, thành ruột thừa bị phù và dày, và khoang ruột thừa chứa đầy chất lỏng cô đặc. Giả dụ chất lỏng cô đặc được thải vào khoang manh tràng vào thời điểm này, những triệu chứng mang thể biến mất đột ngột. Ví như khoang ruột thừa vẫn bị chặn và chất lỏng cô đặc không thể được thải ra, hiện trạng này có thể tiếp diễn. Sau hai mươi bốn giờ, ruột thừa sẽ cứng và sưng lên. Các huyết thanh được bao phủ sở hữu dịch tiết, và 1 chất lỏng đục xuất hiện trong khoang màng bụng. Tại thời khắc này, nội dung của ruột thừa được thải vào manh tràng, và vẫn mang khả năng cải thiện tự phát, nhưng những triệu chứng ko nhanh như biến mất ban sơ. Ở công đoạn sau, loét niêm mạc, hoại tử thành ruột thừa và thủng xảy ra. Lúc vẫn không nhìn thấy được lỗ thủng bằng mắt thường, vi khuẩn có thể thâm nhập vào thành ruột thừa vào khoang bụng và biến thành viêm nói quanh nói quẩn ruột thừa và viêm mô tế bào có mủ, dẫn đến viêm phúc mạc. viêm ruột thừa cấp

Viêm ruột thừa cấp tính là trong khoảng từ, và bệnh này phù hợp và rõ ràng hơn bất kỳ bệnh nào khác ở bụng. Giả dụ chẩn đoán ko chắc chắn và thời kì phát khởi được biết tới, nó thường sở hữu thể đợi trong vài giờ để khiến cho các triệu chứng rõ ràng hơn. Nhưng không thể đợi đến ngày hôm sau, vì viêm ruột thừa cấp tính được tiến hành tương đối nhanh, cho đến lúc lề thói hàng ngày tiến triển đến mức nguy hiểm, và thậm chí những biến chứng đã xảy ra dau ruot thua. Vào ngày thứ ba, trừ lúc mủ đi vào manh tràng và dần dần cải thiện, áp xe cục bộ thường xảy ra. Hoặc viêm phúc mạc.

Trên đây là diễn biến chung của viêm ruột thừa cấp tính, nhưng bất kỳ trường hợp ngoại lệ nào cũng sở hữu thể xảy ra. Ở giai đoạn đầu của bệnh, nó cũng có thể do viêm thành ruột thừa, nhồi máu, hoại tử và thậm chí thủng. Ngay cả trong trường hợp viêm ruột thừa, những triệu chứng vẫn còn. Rất bất ngờ nhẹ, do đó nếu sở hữu lý do chính đáng để nghi ngờ viêm ruột thừa cấp tính, dù là sớm hay muộn, phẫu thuật sớm là thích hợp.

Thứ ba, mối quan hệ giữa vị trí giải phẫu và triệu chứng của ruột thừa tín hiệu của đau ruột thừa

Ruột thừa thường nằm phía sau ngã ba hồi tràng và đầu của nó hướng về phía lách. Trên thực tế, vị trí của ruột thừa đổi thay hầu hết. Những triệu chứng cũng khác nhau tùy thuộc vào vị trí của chúng. . Viêm ruột thừa nằm phía sau manh tràng với thể khiến cho giảm cơn đau do chèn lấn cục bộ và viêm ruột thừa trong khoang chậu thực thụ chỉ với thể mang các triệu chứng nhẹ ở trên vị trí này.

Thứ tư, triệu chứng và triệu chứng địa phương

các triệu chứng và triệu chứng địa phương là:

– Đau (Pain) (bụng trên và dưới bên phải bụng)

– Nôn, buồn nôn, chán ăn (Nôn, buồn nôn, chán ăn)

– Đau nén sâu cục bộ (do bụng hoặc trực tràng)

– cơ bắp địa phương cạnh tranh (độ cứng địa phương của cơ bắp) (không thường xuyên)

– mở mang 1 phần (các chướng địa phương) (không thường xuyên)

– bề mặt quá mẫn (hyperesthesia Bề ngoài) (không thường xuyên)

– sốt (sốt)

– táo bón (táo bón)

– triệu chứng dịch hoàn (triệu chứng tinh hoàn)

những triệu chứng và triệu chứng trên được giảng giải như sau:

(1) Đau ..

với rộng rãi duyên cớ gây đau bụng, nhưng đau bụng do viêm ruột thừa cấp là 1 trong số ít các cơn đau bụng không với cảnh báo, mặc dù thường với những trải nghiệm tương tự như đau bụng. Cơn đau bụng do viêm ruột thừa cấp tính thường kéo dài và khá hiểm nguy, nhưng hi hữu lúc cần sử dụng thuốc giảm đau. Đây không phải là đau bụng, mà là đau liên tiếp, ko kể khoảng 10% bệnh nhân. Những cơn đau không liên tiếp xảy ra, và vẫn còn các cơn đau giữa những cơn đau ko liên tục này. Đi bộ hoặc tập thể dục với thể gây đau. Gần như bệnh nhân trước nhất cảm thấy đau ở bụng trên hoặc rốn, và sau vài giờ, họ cảm thấy đau ở vùng bụng dưới bên phải. Lúc ruột thừa nằm phía sau manh tràng, cơn đau ban sơ sở hữu thể ở bụng dưới bên phải. Sau cơn đau bụng trên, nó được chuyển thành đau cục bộ ở góc phần tư dưới bên phải, đây là triệu chứng đặc biệt của viêm ruột thừa cấp tính. Hiện tượng này xảy ra ở khoảng 2/3 bệnh nhân. Cơn đau khởi đầu ở vùng bụng dưới thường do các bệnh ở khuông chậu gây ra. triệu chứng viêm ruột thừa

(hai) nôn mửa, buồn nôn, chán ăn

(Nôn, buồn nôn, chán ăn)

Nôn thường xảy ra sớm, và triệu chứng này xảy ra ở khoảng 1 nửa số bệnh nhân và thường xảy ra sau lúc ăn. Nhưng thường một đôi giờ sau khi khởi đầu đau, đa dạng bệnh nhân ko nôn, nhưng buồn nôn hoặc chán ăn, trong chẩn đoán lâm sàng, cũng quan trọng như nôn. Bất cứ ai thường rất khỏe mạnh, đau bụng đột ngột và những triệu chứng này nên chú ý xem đó sở hữu phải là viêm ruột thừa hay không. Mức độ và tần suất nôn hoặc buồn nôn có thể được xác định bởi 2 yếu tố:

đầu tiên, chừng độ viêm của ruột thừa.

Thứ hai, phản xạ thần kinh mẫn cảm của bệnh nhân .

Nôn mửa xảy ra chủ yếu ở con nhỏ và bệnh nhân có hệ thống tiêu hóa dễ bị đảo lộn. Vì chừng độ nôn thường cho thấy chừng độ sưng của ruột thừa, bệnh nhân bị nôn nặng mang phổ biến khả năng bị thủng và cũng cần đặc trưng chú ý.

Mất cảm giác ngon mồm, thường là triệu chứng ban sơ của viêm ruột thừa cấp tính và số đông mọi bệnh nhân sẽ xảy ra, chán ăn lâm sàng và buồn nôn, nôn, v.v., mang cùng ý nghĩa, thường chỉ ra sự bắt đầu hoặc tấn công của hệ thống tuyến phố tiêu hóa. Khoảng ba phần tư bệnh nhân xảy ra.

(3) Đau nén sâu cục bộ ..

Đau nén sâu cục bộ, không xảy ra thường xuyên trong thời kỳ đầu, thường bị che chắn bởi những triệu chứng rõ ràng khác. Khi những triệu chứng khác biến mất, cơn đau nén sâu sẽ thiên nhiên phát triển thành rõ ràng. Điểm đau này thường nằm ở rốn và ruột. Mũi về phía trước (anterior nổi bật chậu xương sống) giữa 2/3 , phụ lục rễ tương đương, McBurney điểm bởi sự dịu dàng, chứ không phải là thường xuyên, vì nỗi đau riêng của mình là đại diện của phụ lục, và vì thế do sự đổi thay của vị trí của các phụ lục, được thay đổi Nó ấn điểm đau. Đôi khi cơn đau nén là do sự kích thích của phúc mạc gần ấy. Điểm đau nhất mang thể được xác định bằng cách thức gõ nhẹ. Khi ruột thừa nằm trong sườn chậu, kiểm tra lỗ đít thường sở hữu thể kích hoạt cơn đau của ruột thừa.

Bệnh Rovsing ..

lúc ấn vào ruột già dưới bên trái, không khí trong đại tràng đi lại tới manh tràng và sự kích thích của ruột thừa bị viêm mang thể gây đau ở vùng bụng dưới bên phải, đây là triệu chứng rất đáng tin cậy của viêm ruột thừa cấp.

(D) cơ bắp mạnh của địa phương (Local độ cứng của cơ bắp) ︰

hiện trạng này thường xảy ra ở trên địa bàn bị viêm, nhưng ko một mực phải xuất hiện ở quá trình đầu của viêm ruột thừa. Giả dụ triệu chứng này vẫn còn, điều đó thường có tức thị kích thích phúc mạc hoặc viêm phúc mạc đã xảy ra, và các triệu chứng không thường thấy ở ruột thừa mà ko bị viêm phúc mạc. Với phổ thông chừng độ dẻo dai cơ bắp. Nhẹ hơn sâu hơn đuôi bọ cạp. Trong trường hợp nguy hiểm, thành bụng cũng khó khăn khi thở. Bên cạnh đó, lúc bệnh nhân quá lo lắng, hoặc bác sĩ quá thô tục để rà soát, nó sở hữu thể gây ra sự dai sức của cơ. Triệu chứng này không xảy ra khi ruột thừa không nằm trong khuông chậu.

kèm theo, cũng mang các trường hợp ngoại lệ ngược lại. Viêm ruột thừa gần bị thủng cũng có thể không với độ dẻo dai của cơ. Người ta thường coi cơ bắp là khó khăn và là do viêm ruột thừa gây ra phù năn nỉ ở thành bụng sắp đó.

(E) những triệu chứng cơ psoas (Psoas dấu) ︰

a. Độ dai sức của cơ psoas: sở hữu thể được đo bằng cách thức mở mang quá mức của đùi phải, mang thể xảy ra khi ruột thừa bị viêm ở phía sau hoặc phía sau manh tràng.

B. Quadratus lumborum khó khăn (Độ cứng của quadratus lumborum) ︰ có thể xảy ra trong viêm ruột thừa uplink viêm.

C. Triệu chứng bịt (bịt dấu) chân khuỳnh ra ︰ với thể là 1 phải, bắt cóc, hoặc microbending được xác định, khi ruột thừa viêm vùng chậu, xét nghiệm này sở hữu thể dẫn đến đau nâng cao lên.

(Vi) một phần mở mang (chướng địa phương) ︰

Trong viêm ruột thừa cấp tính, đầy tương đối manh tràng thường xảy ra. Hiện tượng này vẫn là do khí được tạo ra bởi vi khuẩn gia tăng hoặc viêm và yếu của manh tràng phối hợp. Điều này là phổ biến nhất lúc ruột thừa nằm phía sau manh tràng hoặc rất gần sở hữu manh tràng. Khí cục bộ này gây ra sưng cục bộ, song song, mang tiếng ngáy, ợ khá hoặc thậm chí là đau nhu động trong khi gõ. Thỉnh thoảng, chứng đầy tương đối này gây ra các triệu chứng hoặc triệu chứng khác của viêm ruột thừa cấp tính Quá rõ ràng.

(Vii) bề mặt của quá mẫn (hyperesthesia Bề ngoài) ︰

Hơn 1 nửa số bệnh nhân bị viêm ruột thừa sở hữu trạng thái này, thường trong khuôn khổ của đốt sống ngực ngực đến sự phân bố của đốt sống thắt lưng trước hết, đôi khi số đông những triệu chứng ở bụng dưới bên phải, thỉnh thoảng chỉ là 1 phần nhỏ của hiện tượng dị ứng cảm giác, cũng chỉ là một phần nhỏ của hiện tượng dị ứng cảm giác. Sưng, khi viêm phúc mạc khu trú, thường xảy ra dọc theo mép trên của dây chằng Poupart .

(8) Sốt (Sốt) ..

Viêm ruột thừa ban đầu thường không sốt, nhưng thường bị sốt trong vòng 24 giờ. Trước lúc bị viêm ruột thừa, thường ko sở hữu sốt hoặc chỉ mang nhiệt độ thân thể rất nhẹ, thi thoảng khi vượt quá 38 ° C, do đó bệnh nhân nghi ngờ viêm ruột thừa, Nhiệt độ lỗ đít nên được đo 2 hoặc ba giờ một lần. Nếu nhiệt độ cơ thể nâng cao chậm, có khả năng là viêm ruột thừa cấp tính. Giả dụ đau bụng khởi đầu do sốt hoặc ớn lạnh, có lẽ đấy không phải là viêm ruột thừa. Sự xuất hiện của sốt cao và ớn lạnh cho thấy viêm ruột thừa cấp tính đã phức tạp do viêm phúc mạc hoặc áp xe cục bộ. Khoảng 5 phần trăm bệnh nhân mang một số triệu chứng.

(Ix) táo bón (táo bón)

Triệu chứng này thường được kể ở bệnh nhân, đặc biệt là ở con nít, thường dẫn đến 1 hoặc hai đi tả. Táo bón và ỉa chảy xảy ra ở khoảng 10 tới 20 phần trăm bệnh nhân. Táo bón là đa dạng hơn, và tiêu chảy ít đa dạng hơn. Tiêu chảy rõ ràng có thể không phải là viêm ruột thừa.

(X) triệu chứng tinh hoàn (triệu chứng tinh hoàn) ︰

Ở bệnh nhân nam, đôi khi thuốc đờm bên phải bị đau hoặc rút. Vì thuốc đờm cũng bị chi phối bởi dây thần kinh đốt sống ngực thứ mười, dịch tiết bị viêm kích thích trực tiếp dây tâm thần xương đùi sinh sản, mang thể gây ra sự co rút của tinh hoàn.

V. Chẩn đoán

Viêm ruột thừa cấp tính, thường được gọi là viêm ruột thừa cấp tính, là tên sai. Đây là trường hợp cấp cứu bụng phổ biến nhất và những đổi thay của nó là cực kỳ mau chóng. Do đó, cần phải hiểu những triệu chứng sớm của nó là cơ sở vật chất để điều trị phẫu thuật sớm. Những bác sĩ giải phẫu có thương hiệu thường cho rằng viêm ruột thừa cấp tính phải thấp hơn trong vòng 24 giờ kể bắt đầu từ xuất hiện triệu chứng.

Thứ sáu, thứ tự và chẩn đoán các triệu chứng

trật tự xuất hiện những triệu chứng là vô cùng quan trọng để chẩn đoán. Nếu như bạn hỏi chi tiết, thứ tự đa dạng nhất là: (1) Đau sắp bụng trên hoặc rốn. (2) Buồn nôn hoặc nôn. (3) Ấn đau ở bụng dưới bên phải. (4) Sốt. (5) Nâng cao bạch huyết cầu. Viêm ruột thừa phía sau manh tràng, mang 1 số đặc điểm cũng đáng được đề cập .. Tổng thể, đau bụng nhẹ hơn và thường chỉ ở bụng dưới bên phải, nôn cũng ít hơn, độ dai sức của cơ địa thường nhẹ hơn ruột thừa.

Bảy, chẩn đoán thủng ruột thừa

Khoảng 5 % bệnh nhân đã được đục lỗ lúc được bác sĩ giải phẫu chẩn đoán. Chẩn đoán và điều trị chậm trễ của 1 số bệnh nhân này mang thể can dự đến khả năng chẩn đoán của thầy thuốc và khái niệm điều trị viêm ruột thừa cấp tính. Khi buồn nôn hoặc nôn 1 lần nữa xuất hiện trở lại, hoặc lúc sốt cao hoặc ớn lạnh, hoặc lúc khối được chạm vào cục bộ, chẩn đoán chuẩn xác thủng đã xảy ra. Ngay cả viêm tụy rõ ràng thỉnh thoảng xảy ra. Vị trí thủng ruột thừa với các triệu chứng hoặc triệu chứng độc đáo của riêng nó, như chi tiết dưới đây ..

(1) Viêm ruột thừa ở ruột ..

lúc viêm ruột thừa trong khoang ruột bị thủng, các cơ trên thành bụng sẽ rất khó khăn. Ví như là sau đó, khối lượng với thể được cảm nhận, nhưng sức mạnh cơ bắp bị giảm. Nếu như là sau đó, mang thể chỉ với đau nén. Những khối u, ngoài sốt cao, dị ứng da cục bộ và những triệu chứng khác can dự đến vị trí ruột thừa ..

a. Lúc ruột thừa nằm phía sau manh tràng, sở hữu hiện tượng ngáy trên khối do mặt trước bị phồng lên. Tuy nhiên, sở hữu thể mang phù ở ruột và cơ thắt lưng, và ấn vào bụng trên bên phải sẽ khiến cho nâng cao cơn đau ở bụng dưới bên phải.

b. Khi ruột thừa nằm ở phía bên của manh tràng, ngoài các triệu chứng trên, những cơ thành bụng trước và sau cứng hơn và khối dễ chạm vào hơn.

c. Lúc ruột thừa nằm trên cơ psoas trong fossa ruột, tình hình sẽ đặc trưng hơn. Ngoài các triệu chứng trên, cơ chính của cơ ngực bị kích thích và phản xạ, bởi thế đùi phải của bệnh nhân ko bị cong thẳng. Một số bệnh nhân mang 1 loạt các cơn đau và quá nhạy cảm do sự kích thích của dây tâm thần da.

d. Đầu của ruột thừa nằm ở phía trong, khi mà hồi tràng sau đặc biệt rõ ràng ở cơ psoas. Thỉnh thoảng niệu quản bị kích thích và đau lúc đi tiểu xảy ra. Ở vùng hồi tràng, do kích thích thủng ruột thừa, có thể có một số phân lỏng ở giai đoạn đầu, nhưng sau ấy mang thể với những triệu chứng tắc ruột do liệt ruột.

e. Ruột thừa nằm ở phía trung gian và phía trước hồi tràng, thủng sở hữu thể gây viêm tụy nặng. Vì mủ rất gần với thành bụng trước, cơ bụng có thể với một lớp da cứng và tăng trương lực cục bộ. Những cơ được kích thích bởi những triệu chứng.

(B) thủng ruột thừa trong khoang chậu ..

các triệu chứng của viêm ruột thừa là tương tự ở công đoạn đầu, nhưng chúng dễ bị bỏ qua lúc bị thủng và phát triển thành cái bệnh đau bụng hiểm nguy nhất. Lúc bị viêm ruột thừa, cơn đau bụng trên và ruột thừa bị giảm hoặc biến mất, và viêm phúc mạc ở khoang chậu xảy ra cùng lúc. Bụng dưới thường không có độ bền bỉ của cơ, và đau lấp lửng. Có vẻ như bệnh nhân chừng như đã được cải thiện, chẩn đoán và điều trị bị trì hoãn. Sau ba hoặc bốn ngày, 1 vết loét dày được hình thành trong khoang chậu hoặc trở thành viêm tụy. Bởi vậy, cần chú ý tới các triệu chứng và triệu chứng của thành chậu, trực tràng và bọng đái khiến cho cơ sở vật chất chẩn đoán. Đây là một kích thích cục bộ với thể gây ra đi tiểu hoặc đau đi tiểu thường xuyên, đi tả hoặc khẩn cấp, và quan yếu hơn là sờ nắn trong trực tràng, với thể được sắm thấy trong khoang chậu. Đồng thời, sẽ mang những triệu chứng cơ bị che tạ thế. Ở bệnh nhân nữ, tắc nghẽn vùng chậu xảy ra do viêm, thường dẫn đến kinh nguyệt tới sớm.

phương pháp độc nhất để giảm thiểu những biến chứng nghiêm trọng này là chẩn đoán và phẫu thuật sớm.

Tám, kiểm tra và chẩn đoán

(1) Số lượng bạch huyết cầu ..

bệnh nhân viêm ruột thừa thường sở hữu tăng nhẹ hoặc vừa phải của các tế bào bạch cầu, số lượng tế bào máu trắng ở 10.000 / ul trên chiếm khoảng 80% , 12.000 / ul trên chiếm khoảng 60% . Ba phần tư bệnh nhân có sự gia nâng cao bạch huyết cầu trung tính , nhưng điều quan trọng cần lưu ý là từ 1 phần năm số bệnh nhân, số lượng tế bào bạch huyết cầu được phân loại là thông thường, và kết quả lâm sàng đại quát là trước các đổi thay của tế bào bạch cầu.

(2) cách thức phân tách nước tiểu ..

Xét nghiệm nước tiểu tổng thể là bình thường, nhưng trong trường hợp viêm ruột thừa cấp tính sau manh tràng hoặc trong khoang chậu, một số lượng nhỏ bạch cầu và hồng huyết cầu đôi khi được nhận ra, và thậm chí đôi khi mang thể trông thấy tiểu máu.

Chín, chẩn đoán phóng xạ

(1) Phim X- quang bụng

Trong chẩn đoán viêm ruột thừa cấp tính, tia X bụng ko giúp được gì đa dạng, nhưng ở độ tuổi ko điển hình hoặc khôn cùng. Trong thời kỳ đầu của viêm ruột thừa cấp tính, khoảng 1 nửa số bệnh nhân với sự gia tăng mật độ mô mềm, liệt ruột cục bộ hoặc tắc nghẽn cục bộ ở bụng dưới bên phải. Viêm ruột thừa càng tiến triển, càng với đa dạng tín hiệu rõ ràng. Sỏi phân, đổi thay trong bóng của cơ dây lưng phải, vv, hi hữu lúc xảy ra.

(2) siêu thanh ..

trục đường kính tối đa của lòng ruột thừa là hơn 6 mm để chẩn đoán. Mang thể chẩn đoán thủng ruột thừa và hình thành áp xe.

(3) Lỗi máy tính ..

con đường kính của lòng ruột thừa hơn 6 mm, và có 1 bức xúc viêm trong mỡ tiếp giáp với ruột thừa.

(bốn) nội soi

Trong đau bụng cấp tính, chẩn đoán nội soi đôi khi được tiêu dùng.

Mười, chẩn đoán phân biệt

dù rằng viêm ruột thừa cấp tính thi thoảng lúc xảy ra ở bệnh nhân cao tuổi, chẩn đoán thường đặc biệt khó khăn vì những triệu chứng điển hình thảng hoặc lúc xảy ra. Cho nên, hiện trạng cũng tồi tệ hơn, thường dẫn đến thủng và áp xe hoặc viêm phúc mạc. Có thể thấy rằng bất kỳ chẩn đoán bệnh bụng ko xác định đòi hỏi phải xem xét chu đáo về khả năng viêm ruột thừa. Sau đây là những bệnh khác nhau thường cần chẩn đoán phân biệt:

(1) Viêm bao tử ruột ..

Bệnh này thường gây đau bụng sau khi nôn. Trái ngược có viêm ruột thừa cấp tính, cơn đau nén lập lờ và cục bộ như viêm ruột thừa.

(2) Viêm hạch bạch huyết trung mô ..

Thường xảy ra ở con nít và bệnh nhân trẻ tuổi, thường hài hòa sở hữu những triệu chứng nhiễm virus khác, chẳng hạn như đau nhức cơ bắp, chứng sợ ánh sáng, đau đầu và như vậy.

(3) Bệnh vùng chậu nữ ..

a. Tan vỡ buồng trứng . Phụ nữ trẻ giảm dần sau cơn đau dữ dội trong giai đoạn rụng trứng. Có một vài triệu chứng về tuyến đường tiêu hóa, nhưng một số ít bệnh nhân vẫn cần giải phẫu để xác định chúng.

b. Viêm salping cấp tính: sốt cao và đau bụng dưới 1 khuôn khổ rộng, tình trạng chung vẫn rẻ, thường sau lúc mang kinh nguyệt, khám phụ khoa mang đau chèn lấn cổ tử cung, và sở hữu thể trông thấy vết phết tế bào phết tế bào. Ngoại bào.

c. Xoắn nang buồng trứng .. Đau cấp tính, rất giống sở hữu viêm ruột thừa, nội khoa phụ khoa có thể chạm vào khối u.

d. Có thai ngoài tử cung . Kinh nguyệt ko đều, đau bụng đột ngột và đau nén, sở hữu thể có hiện tượng sốc, thủng tử cung trực tràng lõm, mang thể lấy máu mà ko bị đông máu.

(4) bệnh về bộ phận sinh dục ..

a. Niệu quản hoặc sỏi thận .. Đau bụng và đi qua háng, giống như viêm ruột thừa ở manh tràng hoặc xương chậu, phân tích nước và X- quang bụng hoặc niệu quản tĩnh mạch sở hữu thể xác nhận chẩn đoán.

b. Viêm bể thận: sốt cao, ớn lạnh, đau niệu và đau cột sống.

(5) các bệnh ngoại khoa khác ..

Vết loét, viêm túi mật cấp, viêm tụy, viêm túi thừa, tắc ruột, hoặc thủng ruột, trong đấy viêm túi thừa của Merck (viêm túi thừa Meckel của) của sự dịu dàng tạp chí, so sở hữu thiên hướng chung ở bụng dưới, nhưng chẳng hề trước khi giải phẫu và sự dị biệt giữa viêm ruột thừa cấp, phẫu thuật thường được tìm thấy trong ruột thừa, thầy thuốc giải phẫu sẽ kiếm tìm khả năng viêm diverticulum của Merck.

(6) Bệnh toàn thân ..

các triệu chứng như vậy có thể xảy ra nếu như bất kỳ bệnh nào kích thích cơ hoành, hoặc viêm mạch khác.

XI, biến chứng

các biến chứng bao gồm: thủng, viêm phúc mạc, áp xe, viêm tĩnh mạch cửa (Pylephlebitis) , v.v.

Mười hai, điều trị

Ngoài một số ít trường hợp, viêm ruột thừa cấp tính cần điều trị bằng phẫu thuật. Viêm ruột thừa ban sơ đôi khi có thể được điều trị bằng kháng sinh, nhưng điều trị ko phẫu thuật này chỉ nên được để lại mà ko cần tiêu dùng thầy thuốc phẫu thuật. Một số bệnh nhân đến quá muộn, đã hình thành áp xe cục bộ, nhưng không có viêm phúc mạc, thường có thể được điều trị bằng kháng sinh, và sau ấy phẫu thuật cắt ruột thừa nên được thực hiện hai hoặc ba tháng sau lúc áp xe biến mất. Cắt ruột thừa không nên được thực hiện trong trường hợp áp xe, và điều trị trước giải phẫu và sau phẫu thuật viêm ruột thừa như sau:

(1) Xử lý trước khi phẫu thuật ..

ko nên dùng kháng sinh khi Nhìn vào bệnh nhân không xác định chẩn đoán, vì những thuốc này với thể che dấu hoặc đổi thay các triệu chứng và dấu hiệu, khiến cho chẩn đoán cạnh tranh hơn, nhưng bệnh nhân bị thủng, áp xe hoặc viêm phúc mạc nên được tiêm kháng sinh tiêm tĩnh mạch. . Việc dùng thuốc giảm đau hoặc an thần với thể làm cho giảm những triệu chứng, nhưng hãn hữu khi khiến cho những triệu chứng viêm phúc mạc biến mất hoàn toàn. Cho nên, đối có bệnh nhân đau bụng và không xác định chẩn đoán, chẩn đoán mang thể được khiến cho rõ, đặc trưng là chẩn đoán phân biệt sỏi thận. Điều trị tiêm truyền trước lúc phẫu thuật đại quát là không cần yếu đối có viêm ruột thừa ở người trưởng thành mà không có bệnh lý cố nhiên, nhưng thiết yếu cho con nít và bệnh nhân bị bệnh đi kèm. Mất nước và sốt nên được kiểm soát trước lúc phẫu thuật. Đối sở hữu bệnh nhân bị viêm phúc mạc, liệt ruột hoặc tắc ruột, nên sử dụng ống thông mũi để giải nén bao tử và phòng ngừa đầy khá.

(2) Điều trị sau phẫu thuật:

nói chung, sau phẫu thuật cắt ruột thừa, cần rất ít sự săn sóc đặc thù và không cần truyền tĩnh mạch phổ quát. Để tránh phải đặt ống thông lúc bóng đái nâng cao, chức năng tuyến đường tiêu hóa thường được bình phục trong hai hoặc ba ngày. Nếu có biến chứng viêm ruột thừa, bạn phải sử dụng ống thông mũi, kháng sinh và truyền tĩnh mạch, giả dụ sốt sau phẫu thuật ko thoái lui, bạn nên kỹ càng sắm áp xe trong ổ bụng, nếu thấy, bạn nên dẫn lưu càng sớm càng rẻ.

Mười ba, cảnh ngộ đặc thù

(1) Phụ lục cấp tính của trẻ sơ sinh và trẻ con

Viêm ruột thừa cấp tính xảy ra ở trẻ sơ sinh và con nít, và nặng hơn ở người lớn. Do tỷ lệ thủng cao, tỷ lệ mắc bệnh và tử vong cũng nâng cao.

Ở trẻ sơ sinh hoặc con nhỏ, khả năng chẩn đoán chuẩn xác viêm ruột thừa cấp phải chăng hơn đa dạng so mang người to. Lý do chính là các triệu chứng và triệu chứng ko điển hình, đấy là sốt thường cao và nôn rộng rãi hơn. Duyên do thứ phát là do trẻ và trẻ không thể biểu đạt tình trạng này. Song song, vì tỷ lệ mắc bệnh tốt, bác sĩ đã không coi xét khả năng viêm ruột thừa.

Tiến triển thay đổi bệnh cũng mau lẹ hơn ở người to, và xảy ra sớm hơn ở con nít bị hoại tử và thủng. Trong hồ hết các loạt Con số, tỷ lệ thủng chính yếu là từ 15 tới 50% . Nó cao hơn ở lứa tuổi cái giáo, khoảng 50 tới 85% . Ko chỉ vậy, trẻ con thường bị đau bao tử, do đó những thành viên trong gia đình thường nghĩ rằng đấy chỉ là 1 cơn đau bao tử khác, nhưng chúng không được thầy thuốc kiểm tra cho đến lúc tình trạng thủng trở nên tồi tệ hơn. Họ đã được gửi đến bệnh viện, và 1 số bác mẹ đã cho họ thuốc xổ, khiến tăng nhu động và nâng cao tốc độ thủng.

Thủng viêm ruột thừa hoại tử ở trẻ sơ sinh hoặc con nhỏ, thường xuyên hơn người to, phát triển viêm tụy và áp xe ở bụng. Hiệu quả của việc bao bọc cũng nhỏ do om nhỏ, phát triển kém, rút ​​ngắn thời gian kể từ khởi đầu tới thủng, thụt rửa Nó cũng tăng tốc độ thủng và lan rộng mức độ ô nhiễm trong phúc mạc.

(2) Viêm ruột thừa cấp tính ở người cao tuổi ..

Viêm ruột thừa cấp xảy ra ở người cao tuổi và nặng như trẻ thơ. Tỷ lệ tử vong cao hơn rộng rãi so sở hữu người trẻ tuổi. Nguồn cội ko gì khác hơn là chậm trễ trong điều trị triệt để, kiểm soát nhiễm trùng ko đầy đủ và tỷ lệ mắc những bệnh can dự khác.

Viêm ruột thừa cấp tính ở người già thường ko đáng tin cậy, vì những triệu chứng và triệu chứng thường nhẹ hơn phổ biến so mang những thương tổn thực tiễn. Những triệu chứng thường nhật có thể là, nhưng rất khó phát hiện. Đau bụng thường nhẹ và ko được bệnh nhân chú ý. Như vậy, ngoài đau nén, những triệu chứng mang thể ít hoặc ko mang. Sốt và nâng cao bạch huyết cầu là ít nhiều ở người cao tuổi, vì vậy khoảng 70 tới 90% ruột thừa cấp tính ở người già đã bị thủng khi mà phẫu thuật .

※ Lưu ý:

thường nhật, khoảng một phần ba tới 2 phần ba người già mắc các bệnh can dự và dự trữ sinh lý giảm xuống mức nguy hiểm, chính yếu là bệnh tim, bệnh phổi tắc nghẽn kinh niên, viêm phổi và tiểu đường.

(3) Viêm ruột thừa cấp tính lúc sở hữu thai ..

Viêm ruột thừa xảy ra trong thai kỳ, để được chẩn đoán chính xác, luôn là 1 vấn đề cạnh tranh. Với nhiều triệu chứng sở hữu các triệu chứng như vậy trong phòng khám, như viêm bể thận cấp tính trong thai kỳ, nôn do nhiễm độc máu, u xơ tử cung màu đỏ. Thoái hóa, xoắn nang nang buồng trứng, viêm salping cấp tính và mang thai ngoài tử cung.

Khoảng 2% phụ nữ bị viêm ruột thừa lúc sở hữu thai. Nhìn chung, viêm ruột thừa cấp tính không khiến tăng hoặc giảm tỷ lệ mắc bệnh trong thai kỳ, như vậy như ở phụ nữ cùng tuổi, dù rằng đã được Báo cáo là cao hơn trong tam cá nguyệt thứ 2. Tỷ lệ tử vong thường nhật đặc thù cao trong ba tháng cuối của thai kỳ.

các triệu chứng và triệu chứng lâm sàng giống như ở các đàn bà không mang thai, đặc trưng là trong sáu tháng đầu của thai kỳ, nhưng thay đổi một tẹo vào cuối thai kỳ. Đau bụng, nôn, tăng nhiệt độ nhẹ và đau nén mập mờ thường là Viêm ruột thừa. Bởi vì vào cuối thai kỳ, tác dụng của hormone làm bà bầu ko có được sự dai sức của cơ lúc có viêm phúc mạc. Nói chung, khu vực đau bụng cao hơn, và bên ngoài đa dạng hơn, và kết quả là tử cung bị sưng và ruột thừa bị bật lên. Việc kiểm tra số lượng tế bào bạch cầu thường cho thấy ko sở hữu trị giá chẩn đoán đặc biệt. Thành ra, đau bụng xảy ra trong thai kỳ và sở hữu nghi ngờ viêm ruột thừa, đó là phẫu thuật nguy cấp nên được thực hành để ngăn dự phòng thủng và trở nên viêm tụy.

Chẩn đoán phân biệt viêm ruột thừa cấp trong thai kỳ với thể khó khăn, nhưng với ba định nghĩa rất quan trọng:

– Tỷ lệ tử vong của viêm ruột thừa vẫn là do sự chậm trễ trong chẩn đoán và điều trị.

– giả dụ nó đích thực là viêm ruột thừa cấp tính và trì hoãn thủng, nó thường tiến triển thành viêm phúc mạc và thảng hoặc lúc hình thành áp xe cục bộ.

– Cắt ruột thừa không làm cho tăng hoặc gây sảy thai hoặc sinh non nếu được thực hành thận trọng, nhưng thực tiễn những ca phá thai hoặc sinh non này là do biến chứng của viêm ruột thừa.

thành ra, việc điều trị viêm ruột thừa cấp trong thai kỳ vẫn là giải phẫu, vì sở hữu rất ít giảm thiểu sau khi thủng ruột thừa. Bởi vậy, chẩn đoán sớm và phẫu thuật sớm là nguyên tố của điều trị thành công. Cần phải cắt bỏ ruột thừa trước khi thủng song song, và không đặt ống dẫn lưu như trước. Chính sách thấp nhất.

Tỷ lệ tử vong trong phẫu thuật của người mẹ như vậy như đàn bà cộng tuổi bị viêm ruột thừa mà ko với biến chứng, nhưng với thể cao tới 5 đến 10% trong những biến chứng, và với thể cao hơn vào cuối thai kỳ, ngoại trừ nguy cơ tử vong mẹ, mang nguy cơ này. Tăng, có thể nói là hoàn toàn trong thủng cấp tính của viêm ruột thừa cấp tính và viêm tụy.

(4) Cắt ruột thừa dự phòng:

khái quát, không mang phẫu thuật cắt ruột thừa phòng ngừa thường quy. Ngoại lệ độc nhất vô nhị là bệnh nhân bị sỏi trong ruột thừa nên đến những khu vực ko có đủ nhân viên y tế. Nếu ko, nguy cơ viêm ruột thừa là không đủ vì lý do cắt ruột thừa đề phòng.

Mười bốn, viêm ruột thừa mạn tính (Chronic Viêm ruột thừa)

Bệnh vẫn còn gây tranh luận, viêm nhẹ và tự bình phục ruột thừa là mang thể xảy ra, lặp đi lặp lại có thể dẫn tới xơ hóa dưới niêm mạc và phì đại, sở hữu thể được gọi là “viêm ruột thừa tái phát mạn tính” là thích hợp hơn.

Add your comment