Warning: Illegal string offset 'width' in /home/bacsigio/public_html/nghiencuubenhdaday.com/wp-content/plugins/wordpress-seo-premium/frontend/schema/class-schema-image.php on line 149

Warning: Illegal string offset 'height' in /home/bacsigio/public_html/nghiencuubenhdaday.com/wp-content/plugins/wordpress-seo-premium/frontend/schema/class-schema-image.php on line 150

Bụng cấp – nhiễm trùng đường tiết niệu hay viêm ruột thừa ở trẻ?

Nhiễm trùng đau ruột thừa con đường tiết niệu (UTI) là một trong những bệnh nhiễm trùng phổ biến nhất ở trẻ con và cốt yếu can hệ đến nhiễm trùng do vi khuẩn. Đây là một trạng thái y tế nên được nghi ngờ của bất kỳ đứa trẻ sốt nào mà không sở hữu dấu hiệu nhiễm trùng khác, nhanh chóng được công nhận và điều trị thành công. Viêm ruột thừa là 1 trong các tình trạng phổ quát nhất cần giải phẫu bụng nguy cấp ở con nhỏ. Ấn phẩm diễn đạt cả hai điều kiện nêu trên và các yếu tố nguy cơ tương ứng, triệu chứng lâm sàng và bí quyết chẩn đoán. Nghiên cứu tình triệu chứng đau ruột thừa huống biểu hiện thận của cô gái, mà tới Sở Thận, Thận Ghép và tăng áp huyết CMHI có những triệu chứng cấp tính bụng.

VIÊM RUỘT THỪA
Viêm ruột thừa là duyên cớ nhiều nhất của phẫu thuật khẩn cấp ở trẻ em và được ước tính xảy ra ở 1-2% trẻ vị thành niên Báo cáo mang bác sĩ với triệu chứng đau bụng cấp tính [1]. Nó đa dạng hơn ở trẻ thơ nam và trắng và trong thập kỷ thứ 2 của thế cuộc. Thủng xảy ra thường xuyên nhất ở trẻ thơ dưới 10 tuổi, rất sở hữu thể là do những triệu chứng không tiêu biểu kéo dài thời kì cấp thiết để chẩn đoán [2-4]. Ở trẻ sơ sinh, viêm ruột thừa hi hữu khi do hình dáng giống như phễu của đau ruột thừa bên nào nó, ở độ tuổi muộn hơn sẽ chuyển thành cấu trúc hình ống, dễ bị tắc nghẽn và viêm hơn.
TRIỆU CHỨNG
Diễn biến kinh điển của bệnh mang liên quan đến sự xuất hiện của các triệu chứng như: đau bụng dữ dội ngăn chặn chuyển động, buồn nôn, nôn, thiếu thèm ăn, tăng nhiệt độ cơ thể, đau áp lực ở bụng dưới bên phải và giảm nhu động. Đau xuất hiện nói quanh rốn và thường di chuyểntín hiệu đau ruột thừa trong vòng 24 giờ đến góc phần tư bụng dưới bên phải. Trong kiểm tra thể chất, những triệu chứng kiểm soát an ninh cơ và các triệu chứng phúc mạc dương tính được Nhìn vào, tức thị triệu chứng Blumberg dương tính (đau dữ dội lúc giảm chèn lấn khoang bụng), triệu chứng Rowsing dương tính (đau ở góc dưới bên phải của bụng trong khi nén bên trái) và triệu chứng Jaworski dương tính (đau khi doãi mông phải bằng cách nâng và hạ chi dưới bên phải) [4-6].
Ở con nít dưới 10 tuổi cố nhiên mang thể là không tiêu biểu, những triệu chứng đặc trưng (đau dữ dội chuyển động đến bụng dưới bên phải, đau bụng dưới bên phải, nôn mửa, sốt, triệu chứng dương tính của Blumberg) sở hữu thể vắng mặt. Trẻ càng nhỏ, các triệu chứng càng ít đặc thù.
biểu đạt đau ruột thừa Ở trẻ lọt lòng, viêm ruột thừa là rất hiếm (50 trường hợp đã được diễn đạt trong 30 năm qua), nhưng được đặc trưng bởi tỷ lệ tử vong cao, ước lượng khoảng 28% [7]. Những triệu chứng nâng cao rất nhanh, bao gồm mở mang chu vi bụng, nôn mửa, giảm lượng thức ăn, không ổn định nhiệt độ cơ thể, đổi thay da, sốc nhiễm trùng và máu tươi cũng sở hữu thể xuất hiện trong phân [8].
Ở trẻ thơ dưới 5 tuổi viêm ruột thừa là khá hiếm, nhưng tỷ lệ thủng và viêm phúc mạc cao. Các triệu chứng thường được nhắc bao gồm đau bụng lan tỏa, đau đông đảo khoang bụng, phòng thủ cơ, sốt, nôn mửa và ỉa chảy [6, 9]. Sự bảo vệ cơ bắp và sự đau đớn phân tán trên đông đảo khoang bụng tương quan sở hữu sự xuất hiện của thủng ruột thừa và nguy cơ xuất hiện của nó nâng cao theo thời gian của các triệu chứng trước lúc chẩn đoán.hiện tượng đau ruột thừa Người ta ước lượng rằng khoảng 44-68% trẻ con trong độ tuổi này Thống kê sở hữu bác sĩ với triệu chứng viêm ruột thừa cấp tính mang chẩn đoán kém và được gửi về nhà [9]. Nó đã được chứng minh rằng tỷ lệ thủng thủng giảm dần theo tuổi và áp dụng cho hầu hết trẻ em một tuổi và khoảng 69% con nít 5 tuổi [10].
XÉT NGHIỆM HÌNH ẢNH VÀ XÉT NGHIỆM
ruột thừa đau bên nào Trong công thức máu, tăng bạch huyết cầu và tăng số lượng bạch huyết cầu trung tính trên 75% được Nhìn vào đa dạng nhất, không những thế, ở trẻ nhỏ, các thất thường trong xét nghiệm trong phòng thí nghiệm với thể không xảy ra. Trong số các xét nghiệm phụ trợ gần đúng chẩn đoán là siêu âm, X-quang và chụp cắt lớp vi tính bụng.
CÂN thẩm định NGUY CƠ VIÊM RUỘT THỪA
mang những cố gắng trong tài liệu để đánh giá nguy cơ viêm ruột thừa bằng cách tiêu dùng lược đồ tính điểm dựa trên tuổi, nam nữ, triệu chứng lâm sàng, kết quả xét nghiệm,vị trí đau ruột thừa để rút ngắn công đoạn chẩn đoán và giới hạn các can thiệp không cấp thiết. Trong số chậm triển khai có Thang đo Alvarado [11], Điểm viêm ruột thừa ở con trẻ (PAS) [12] được biểu thị trong Bảng 1
và Máy tính rủi ro viêm ruột thừa ở con nhỏ (PARC). ) [13]. Những thang đo này là 1 dụng cụ gần đúng cho các bác sĩ tiến hành chẩn đoán theo hướng này. Thang đo pARC đòi hỏi nghiên cứu sâu hơn và thuần tuý hóa lược đồ, tuy nhiên, kết quả so sánh sơ bộ rất hứa hẹn [14].

biểu lộ của đau ruột thừa Tab 1. Thang viêm ruột thừa ở con nhỏ (PAS) cho trẻ em từ 3-18 tuổiSự đau của góc phần tư bụng dưới bên phải khi ho hoặc run
hai
chán ăn
một
Nhiệt độ cơ thể> 38 ° C
1
Buồn nôn / nôn
1
Đau ở bên phải xương chậu
hai
tăng bạch huyết cầu
một
tăng bạch huyết cầu trung
1
đi lại đau đến góc phần tư phía dưới bên phải của bụng
1
Điểm:
<5 nguy cơ viêm ruột thừa
cấp tính 5 viêm ruột thừa cấp với thể
> 5 nguy cơ viêm ruột thừa cấp

VIÊM RUỘT THỪA CẤP VÀ NHIỄM TRÙNG đau ruột thừa đau bên nào
Cả 2 điều kiện này mang thể cùng còn đó. Tuy nhiên, viêm ruột thừa là 1 nhân tố nguy cơ nhiễm trùng trục đường tiết niệu. Vi khuẩn phát triển trong ruột thừa mang thể đi qua không gian sau phúc mạc vào đường tiết niệu và gây nhiễm trùng tuyến phố tiết niệu, với hoặc ko có triệu chứng tiêu biểu cho hiện trạng này [15].
Nhiễm trùng tuyến phố tiết niệu (UTI) được định nghĩa là sự hiện diện của vi khuẩn niệu trong một hiệu giá đáng đề cập ở 1 bệnh nhân mắc bệnh tiểu niệu hoặc ở một bệnh nhân ko bị viêm niệu nhưng mang các triệu chứng ngày nay của nhiễm trùng đường tiết niệu [16]. Đây là 1 vấn đề rộng rãi và quan yếu trong dân số nhi khoa, sở hữu thể dẫn đến sẹo thận, vững mạnh nâng cao huyết áp và bệnh thận quá trình cuối. Nhiễm trùng niệu có thể tác động đến trục đường tiết niệu trên (viêm bể thận cấp tính, viêm ống thận lây nhiễm cấp tính) hoặc đường tiết niệu dưới (viêm bàng quang). Nhiễm trùng đường tiết niệu xảy ra ở khoảng 0,7 bóng5,9% con nít Báo cáo mang thầy thuốc gia đình [17] và 5-14% dau ruot thua trẻ thơ Con số tới phòng cấp cứu [18]. Người ta ước lượng rằng trong số các trẻ sốt, UTI được chẩn đoán ở 3-8% trường hợp, khi mà ở các bé gái bị sốt mà ko mang những đặc điểm khác của nhiễm trùng, khả năng nhiễm trùng tiểu sẽ tăng lên 16 các yếu tố nguy cơ của nhiễm trùng tiểu bao gồm tuổi <3 tháng tuổi, nam nữ nam ở trẻ sơ sinh và nam nữ nữ ở trẻ lớn, chủng tộc da trắng, thiếu bao quy đầu, khuyết tật trục đường tiết niệu bẩm sinh, trào ngược dạ dày, tiền sử gia đình dương tính thận và khuyết tật trục đường tiết niệu, hội chứng bài tiết, rối loàn bọng đái chức năng, đặt ống thông và hoạt động tình dục [22 cạn26].
Nhiễm trùng tuyến đường tiết niệu mang thể xảy ra có các triệu chứng khác nhau tùy thuộc vào độ tuổi của bệnh nhân. Trẻ càng nhỏ, các triệu chứng đi kèm càng ít đặc thù. Ở trẻ nhỏ nhất (<2 tuổi), sốt ko với tín hiệu nhiễm trùng khác có thể là triệu chứng độc nhất vô nhị của nhiễm trùng tiểu. Chẩn đoán nhiễm trùng tiểu thường được công nhận phổ quát hơn nếu nhiệt độ cơ thể cao hơn 39 ° C và sốt kéo dài hơn 24 giờ [26 sắt28].
Trong số các triệu chứng khác của UTI ở trẻ <2 tuổi. Vàng da kéo dài, khó chịu, rối loàn phát triển, rối loạn ăn uống và nôn mửa được đề cập [29, 30]. Trẻ to hơn liệt kê các triệu chứng như sốt, khó tiểu, đau bụng, đau lưng, tiểu cầu, tiểu gấp, tiểu ko tự chủ, tiểu máu và nôn [29, 31]. Ở đau ruột thừa là đau bên nào thanh thiếu niên, người ta cũng nên chú ý đến những triệu chứng biến chứng (sẹo của mô thận) của UTI ko được nhận diện, tái phát, tức thị nâng cao áp huyết, rối loạn phát triển và những triệu chứng của bệnh thận giai đoạn cuối [32].
Ở trẻ thơ trong khoảng hai đến 5 tuổi, các triệu chứng rộng rãi nhất của UTI là sốt và đau bụng [33]. Các triệu chứng này mang thể đi kèm với nôn mửa và chán ăn, có thể cho hình ảnh của 1 bụng ruột thừa bên nào cấp tính và gợi ý nghi ngờ viêm ruột thừa cấp tính.
SỰ THỪA NHẬN
Chẩn đoán dựa trên lắng đọng nước đái và xét nghiệm nước giải vi sinh. Một xét nghiệm sàng lọc cho 1 đứa trẻ nghi ngờ mắc UTI sở hữu thể là các xét nghiệm dải phát hiện sự hiện diện của bạch cầu esterase và nitrat trong nước giải. Đây là các xét nghiệm tốt và nhanh với độ nhạy và độ đặc hiệu cao [34].
giám định NGUY CƠ Ở trẻ con VỀ NHIỄM TRÙNG trục đường TIẾT NIỆU
Để giám định nguy cơ nhiễm trùng tiểu ở trẻ sốt hai tháng –duyên do đau ruột thừa hai tuổi, sở hữu thể sử dụng máy tính rủi ro UUM – UTICalc [35], mang sẵn tại trang web: “// líc.pitt.edu”. Máy tính đánh giá nguy cơ nhiễm trùng tiểu dựa trên những triệu chứng lâm sàng và những xét nghiệm bổ sung. Một thí dụ về việc sử dụng máy tính được hiển thị trong Hình. Một.

[Image: 5bfbcd0b8641b067967857.png]Hình. 1. UTICalc – 1 bảng ví dụ để đánh giá nguy cơ nhiễm trùng tiểu ở trẻ sốt cao 2 tuổi23 tháng

cỗi nguồn KHÁC CỦA ĐAU BỤNG CẤP TÍNH Ở trẻ thơ
một số bệnh ở con trẻ xảy ra có đau bụng cấp tính. Trong số chậm tiến độ, chúng tôi đề cập, tỉ dụ, các bệnh lý xảy ra trong khoang bụng (viêm ruột thừa, viêm ruột, viêm phúc mạc, viêm gan cấp, viêm túi mật, viêm tụy cấp), đau ruột thừa ở bên nào rối loàn niệu sinh dục (UTI, sỏi tiết niệu , xoắn dịch hoàn, bệnh viêm vùng chậu), rối loàn hô hấp và tuần hoàn (viêm cơ tim, tràn khí màng phổi), những bệnh về huyết học (thiếu máu hồng huyết cầu hình liềm, HUS), các vấn đề về chuyển hóa (nhiễm toan chuyển hóa)
và nhiễm độc thuốc. Bảng hai cho thấy các duyên do phổ biến nhất của đau bụng cấp tính ở các hàng ngũ tuổi khác nhau.

Tab hai. Nguyên cớ gây đau bụng cấp tính ở những đội ngũ tuổi khác nhau [36]Trẻ sơ sinh và trẻ lọt lòng
Trẻ măng non
học sinh
Đau bụng
Nhiễm trùng các con phố tiêu hóa
Viêm ruột thừa cấp tính
Nhiễm trùng trục đường tiêu hóa
Viêm ruột thừa cấp tính
Nhiễm trùng các con phố tiêu hóa
táo bón
táo bón
táo bón
Bệnh Hirschsprung
Ketoacidosis
Đau bụng kinh
Thoát vị bẫy
Nhiễm trùng con đường tiết niệu
Bệnh viêm vùng chậu
hút chất dinh dưỡng vào cơ thể
vết thương
Thai ngoài tử cung
Vòng xoắn ruột
Viêm phổi
Xoắn tinh hoàn / vòi trứng
Nhiễm trùng tuyến đường tiết niệu
Ban xuất huyết Schoenlein-Henoch
Viêm túi mật

PHÂN BIỆT VIÊM RUỘT THỪA VÀ ruột thừa nằm bên nào
Trong phân biệt, chúng tôi tính đến tuổi của đứa trẻ Thống kê bị đau bụng cấp tính. Ở trẻ dưới hai tuổi. Nguy cơ viêm ruột thừa cấp tính phải chăng và tăng theo tuổi. Điều ngược lại cũng đúng sở hữu UTI – trẻ càng nhỏ, nguy cơ nhiễm trùng đường tiết niệu càng to. Bảng 3 so sánh những đặc điểm lâm sàng và kết quả của các xét nghiệm phụ trợ trong UTI và viêm ruột thừa.

Tab. 3. So sánh những triệu chứng và những thất thường trên thăm khám lâm sàng và nghiên cứu phụ trợ trong viêm ruột thừa cấp tính và nhiễm trùng tuyến đường niệu
Viêm ruột thừa cấp tính
Nhiễm trùng trục đường tiết niệu
Đau bao tử
gần rốn / góc dưới bên phải
Đau bụng bên / đau siêu âm
thiên cư của nỗi đau
Trong vòng <24 giờ, đến góc phần tư bụng dưới bên phải

Nhiệt độ> 38 ° C
+
+
Chán ăn, buồn nôn, nôn
+
+/-
Triệu chứng phúc mạc
+/-

nâng cao bạch cầu
+ nâng cao bạch huyết cầu trung không những thế, 1 “sự đổi thay trái”
+
Xét nghiệm nước giải tổng quát
đúng
lmổ ruột thừa eucocyturia
1 kết quả tích cực của que thử (sự hiện diện của bạch cầu esterase hoặc nitrat)

+
thất thường trong rà soát siêu âm
mở rộng con đường kính ruột thừa> 6 mm / ko nhạy cảm có phần phụ bên ngoài / vôi hóa bên trong ruột thừa / lưu lượng máu trong thành ruột thừa trong xét nghiệm hiệu ứng Doppler / khiến cho dày thành manh tràng / dịch màng bụng tự do / áp xe [37, 38]
hình ảnh siêu âm bụng có thể thường nhật / nâng cao kích thước của thận / sưng lớp nhu mô / mờ sự khác biệt vỏ não / hipoechogeniczność bột giấy / mở rộng của BELLING-xương chậu / Pyonephrosis / áp xe của thận [39]
Cả hai tình trạng mang thể cộng còn đó

CA LÂM SÀNG

Bé gái 13 tuổi bị khuyết thiếu con đường tiết niệu phức tạp (nhân đôi cơ quan sinh sản bị teo cả âm đạo và cloaca dai dẳng, co thắt bàng quang,viêm ruột di chuyển niệu quản sang ống tủy, di lệch qua thận phải và loàn sản nang thận trái). Phòng ban sinh dục và tuyến đường tiêu hóa dưới, sau lúc cắt bỏ ống dẫn trứng và buồng trứng mang một nang sô cô la ở bên trái và cắt bỏ cả hai âm đạo đến đáy chậu, sau lúc ghép thận vào 1 vòng lặp của Bricker, có nhiễm trùng các con phố tiết niệu tái phát với triệu chứng bụng cấp tính, cô đã được đưa vào khoa thận. Và tăng áp huyết nguy cấp do đau bụng dữ dội, chán ăn, sốt 38,8 ° C và thiểu niệu.
khi nhập viện, cô gái ở trong trạng thái nói chung làng nhàng, đau bụng dữ dội. Cô gái đã nhận thức và định hướng trong thời gian, địa điểm và cảnh huống. Cô đã không uống thức ăn trong 24 giờ, từ khước uống nước trong khoảng 16 giờ. Ở nhà, cô gái 1 lần nôn mửa và 1 lần bỏ phân nước. Nhiệt độ thân thể tăng lên 37,5 ° C đã được Quan sát trong kiểm tra thể chất. Niêm mạc mồm sạch sẽ, khô ráo, bụng giống như tấm ván, mềm chủ yếu ở bụng và quanh đó hố chậu trái. Các viêm ruột thừa cấp triệu chứng phúc mạc dương tính tăng theo thời gian (triệu chứng của Blumberg), nhu động rất lười biếng và rất khó nghe. Huyết áp là 100 / 50-91 / 48. Trong phòng bệnh, cô gái đã nôn ra hàm lượng serous-green hai lần và cho phân ướt bốn lần,
Trong các nghiên cứu phụ trợ, các thông số viêm cao đã được Nhìn vào – nâng cao bạch cầu 20.000 / μl, CRP 14 mg / dl (với định mức <0,5 mg / dl), procalcitonin 39 ng / ml (định mức <0,1 ng / ml). Phiến đồ bạch cầu trung tính (18.000 / μl) đã được Nhìn vào trong hình thái học. Số mũ của chức năng thận đã nâng cao – creatinine nâng cao lên một,58 mg / dl trong khoảng 0,7 mg / dl (chỉ tiêu 0,06-1,00mg / dl) urê và axit uric tương ứng là 50 mg / dl (định mức 0-50 mg) / dl) và 6,1 mg / dl (định mức hai,4-5,7 mg / dl). Trong Phân tích nước đái, người ta đã Quan sát thấy py niệu (25-30 bạch cầu trong trường nhìn).
X-quang bụng đã được thực hiện, miêu tả trong hình. 2. Trong chế độ xem cáp …triệu chứng viêm ruột thừa

Add your comment